Kinh và Ba Na là anh em

Ngày xưa, khi loài người còn thưa thớt, có một nhà nọ có hai anh em trai. Xứ họ ở bằng phẳng, rộng thênh thang, quay đầu bốn phía đều thấy chân trời tròn vành vạnh như một vành nong. Còn phía mặt trời lên có cái hồ lớn ngày đêm gầm gừ như con hùm, con sói, nhưng tốt bụng vô kể, xin bao nhiêu muối cũng sẵn sàng cho.

Nhà ấy cày ruộng và đánh cá. Một hôm người cha nấu rượu gạo uống, uống nhiều quá chẳng còn biết gì, thấy tỏng người nóng bứ bèn xé bỏ quần áo, dang tay dang chân nằm ngủ. Hai anh em đi cày về thấy thế, anh chạy đi tìm quần áo, còn em cứ khúc khích cười. Ông cụ tỉnh giấc, thấy con cười thì nạt bảo ngậm miệng. Không những không nín được, nó lại còn cười to to. Cha mắng, nó ôm bụng cười, cười ngặt nghẽo, cười rũ rượi. Cha đánh, nó vừa khóc vừa cười. Ông cụ giận quá, lột quần áo nó, đuổi đi. Người anh không dám can cha, bèn đi tìm cô em dâu để lo liệu.

Cô gái ở trong lùm cây, đang nhặt củi khô và ca hát líu lo với con chim chìa vôi nửa đen nửa trắng. Nghe tin chồng bị đuổi đi, cô chạy theo tay anh chỉ, tất tả chạy về hướng mặt trời lặn, đuổi theo chồng.

Nhưng đi mãi vẫn không nhìn thấy lưng chồng. Đêm đến leo lên cây ngủ, sáng ra lại đi. Đi đã nhiều lắm, đã lâu lắm. Bàn tay cô có bao nhiêu ngón thì trăng lặn bấy nhiêu lần mà dấu chân chồng vẫn chưa giẫm lên được. Càng đi, càng phải leo nhiều dốc núi dựng sừng sững như vách, giăng tầng tầng lớp lớp như muốn đội nhau lên tận mây xanh. Dây rừng níu kéo tay chân, gai dại đâm xuyên da thịt, xé áo váy, đêm đêm mắt hổ sáng như đèn, vượn hú, rắn trườn rùng rợn. Hoảng quá, cô gái cứ vừa đi vừa gọi to:

– Chàng ơi! Chàng! Chàng à!

Không ai trả lời.

Nhưng thần núi thương tình, đưa tiếng cô lọt vào kẽ đá, chen qua lá cây, theo gió lên ngàn, theo suối xuống nội. Vách đá tiếp nhận, đưa lên phía trước và một hôm đưa lọt tai chồng. Người chồng dừng lại đón vợ.

Hai vợ chồng gặp nhau, vui mừng khôn kể xiết. Vợ cởi áo đưa chồng đóng khố, rồi họ dắt tay nhau tìm đất phát rẫy gieo lúa, trồng ngô. Về sau ho sinh con đẻ cháu gọi là người Ba Na hiện nay. Còn người anh ở đồng bằng, sinh con đẻ cháu là người Kinh.

Người thợ đúc

Xưa có đức thánh Khổng Lồ, chuyên trông nom về nghề đúc và nghề rèn ở hạ giới. Đức thánh thường thân hành đi lại các nơi; khi giáng xuống miền này, lúc hiện ra xứ nọ, thành người trần, để tìm cách dạy thêm cho những người thợ về kỹ xảo...

Lưỡi dao thần

Xưa kia, có một em bé ở đợ chăn trâu cho nhà giàu. Đàn trâu nhà này đông lắm, không ai chịu cho em chăn chung. Quanh năm em phải một mình chăn riêng đàn trâu, giữa chốn rừng hoang, đồng vắng. Chẳng có ai trò chuyện...

Âm dương giao chiến

Ngày ấy, có một trận mưa lụt rất dữ dội, khúc đê ở xã Thọ-triền bị vỡ, mùa màng hư hại, nhà cửa, súc vật trôi nổi theo dòng nước bạc...

Của trời trời lại lấy đi, giương đôi mắt ếch làm chi được trời

Ngày xưa có một người nghèo khổ quá. Ngày ngày ông ra bãi biển cố sức mò cua bắt ốc để lấy miếng ăn, nhưng không bao giờ đủ...

Sự tích loài ngỗng

Những chú ngỗng con nở ra đều có bộ lông màu trắng tinh. Vì chúng đều xuất thân từ những quả trứng rất trắng của mẹ. Mỗi lần nghịch bơi lặn ở ao nước bẩn thỉu, có bị lấm bẩn thì mẹ chúng chỉ cần dội qua nước sạch...

Sự tích hoa mười giờ

Tia nắng ban mai hôm nào cũng đi ngang qua cửa phòng cô bé nhưng cô bé lúc thì mải chơi, lúc mải học cho nên ít khi để ý tới nó. Căn phòng của cô bé hướng ra mảnh vườn nhỏ mà ở đó ba của cô bé đã trồng rất nhiều loài hoa...

Chiếc giày thơm

Ngày xưa, ở chợ Đồng-xuân có cô gái họ Trương, con một gia đình giàu có lớn. Cô gái mặt hoa da phấn và đã đến tuổi yêu đương. Thường ngày sống trong nhung lụa, có kẻ hầu người hạ nên cô ít khi bước chân ra ngoài...

Người cưới ma

Ngày xưa có một anh đồ họ Lê, nhà nghèo khó, phải bỏ đi các nơi làm nghề gõ đầu trẻ. Về sau anh được một phú ông một làng nọ đón về “ngồi” ở nhà để cho con khỏi đi học xa...

Cố Bu

Ngày xưa ở làng Phan-xá thuộc Hà-tĩnh - một làng ngay sát nách con sông mà nước thuỷ triều vẫn lên xuống đều đều - có một người nghèo tên là Bu...