Biển tiền vàng

Đó là ngày thứ mười lăm của tuần trăng thứ tám, trên mặt đất xảy ra những điều kỳ diệu lạ lùng và cái không thể trở thành có thể. Trên trời, một vầng trăng vàng lớn lơ lửng.

Anh thự săn Lan-fou xách giỏ lên núi cao nhặt phân lợn lòi. Sau khi đã leo một quãng dài vất vả, anh đến đỉnh núi, phóng tầm mắt nhìn về phía thung lũng thường vẫn tối đen, mệt đứt hơi. Trước mặt anh, như trong tầm tay, thung lũng ngập trong ánh trăng vàng rực rỡ. Lan-fou bấm vào bàn tay. Có phải thật là ánh sáng không, hay là - anh không thể tin - một biển tiền đuy-ca vàng?

“Nhưng chúng ở đâu ra? Và ai đã vất chúng xuống mặt nước như thế?” Lan-fou băn khoăn tự hỏi, đưa mắt nhìn xung quanh. Trên mặt biển vàng chợt có cái gì động đậy. Nhìn kĩ, Lan-fou thấy một con thuyền vàng đang tiến thẳng về phía mình và trên con thuyền vàng - Lan-fou dụi mắt - trên con thuyền, quả vậy, không phải là mơ, một người đàn bà đẹp. Con thuyền tiến thẳng về phía anh.

- Ta là tiên mặt trăng, bà cất giọng ngọt ngào. Ta đợi anh. Anh đến rất đúng lúc. Đêm nay các kho tàng của trái đất đều mở. Mỗi người đến thung lũng này đều nhận được phần của mình. Dứt lời, bà tiên đưa cho Lan-fou ba đuy-ca vàng.

Lan-fou cảm ơn và sung sướng quay về. Nhưng mới đi được mấy bước, anh nảy ra ý nghĩ: “Cả một biển tiền đuy-ca mênh mông thế này! Ta có thể hỏi xin thêm một ít nữa!” Anh quay trở lại chỗ bà tiên đang bơi thuyền trên biển vàng.

- Tiên mặt trăng, tôi nghèo lắm, xin bà cho tôi ba đuy-ca nữa, Lan-fou nài nỉ.

Bà tiên mỉm cười, nhúng tay xuống biển, lấy lên cho Lan-fou ba đuy-ca lấp lánh.

Anh thợ săn trẻ cảm ơn và quay gót trở về nhà. Đi dọc biển vàng, anh nghĩ: “Sáu đuy-ca thì có nghĩa lý gì, xung quanh đây có hàng ngàn, hàng ngàn. Ta không quay lại hỏi xin bà tiên nữa, ta sẽ láy đầy giỏ này. Ta sẽ sống không phải lo đến ngày mai”.

Đi đến một tấm ván bắc qua suối làm cầu, anh sực tỉnh: “Một giỏ tiền thì có nghĩa lý gì. Nếu ta mang về nhà đầy một ủng tiền thì sao nhỉ? Phải! Ta sẽ không mất thì giờ với cái giỏ nữa.” Nghĩ là làm: Anh vứt cái giỏ xuống suối, chạy thật nhanh về nhà.

về đến nhà, anh lấy một chiếc ủng và trở lại con đường lên núi. “Nhưng chỉ có độc một chiếc ủng thì có nghĩa lý gì?” Anh nghĩ bụng. “Thật là tiếc nếu bỏ lại bấy nhiêu đuy-ca lấp lánh, tốt nhất là gọi vợ ta, để cô ấy đem theo chiếc ủng thứ hai.”

- Nhanh lên, mình, dậy nhanh! Anh lay gọi vợ, mắt sáng rực.

Lan-fou chạy như điên lên núi, chị vợ theo sau, nhằm hướng biển đuy-ca. Đến cái cầu, anh tự nhủ: “Hai chiếc ủng, chẳng có nghĩa lý gì cả. Tốt nhất là gọi bố vợ và mẹ vợ ta đến giúp một tay, mang theo chiếc xe bò.” Anh vội vàng quay trở về, theo sau vẫn là chị vợ. Họ chạy về gọi bố mẹ vợ đến giúp. Cả bốn người chạy lên núi, mệt tưởng đứt hơi. Họ vừa chạy vừa thở hổn hển, nhưng kia rồi, họ đã gần đến đỉnh núi, ngay sau đỉnh núi thôi sẽ là biển đuy-ca trải dài vô tận. Nhưng, gì thế này? Mặt trăng như mờ dần... mờ dần, đỉnh núi tràn ngập ánh sáng hồng, rồi ánh sáng đỏ của mặt trời mới mọc tràn ngập khắp.

Chết lặng vì kinh ngạc, Lan-fou đứng nhìn thung lũng. Biển đuy-ca vàng đã biến mất.

- Đuy-ca đâu? Chị vợ kêu lên.

- Đuy-ca đâu cả rồi? Bố mẹ vợ kêu lên.

- Biến mất cả rồi, Lan-fou hổn hển trả lời. Chúng đã biến mất không thể cứu vãn được rồi. Chúng sẽ không bao giờ trở lại. Anh thuật lại cho mọi người nghe anh đã nhận được của bà tiên mặt trăng ba đuy-ca vàng như thế nào, rồi ba đuy-ca nữa, kế đó anh đã về nhà với một giỏ đầy vàng mà anh đã vứt xuống suối ra sao.

Tràn đầy hy vọng, họ vội vàng đi về phía chiếc cầu ván nhỏ. Dòng nước hung dữ cuộn xoáy trong lòng suối, chỉ thấy có đá, không còn dấu vết của chiếc giỏ.

- Thật tiếc chiếc giỏ, Lan-fou than thở, giờ tôi chỉ còn cách đan một chiếc giỏ khác!

Sự tích hoa xuyến chi

Ngày xửa ngày xưa, ở vùng nọ có một người con gái rất xinh đẹp. Ai mới nhìn cô lần đầu thôi là không thể quên được khuôn mặt rạng ngời như ánh trăng rằm, nụ cười như hoa ban sớm...

Họa sĩ Touo-lan-ka

Rất xa ở miền nam Trung Quốc, nới những người Tai sinh sống, có một thôn làng vây quanh bởi những bãi trồng cọ. Không xa ngoài rìa làng, bên bờ một con sông nước trong vắt, sừng sững một cái chòi cũ nát, bằng tre ken lại với nhau...

Chiếc mũ thần kỳ

Ngày xưa, có một người lái buôn trẻ thường hay đi xa và cứ mỗi lần ra thành phố bằng xe thổ mộ là anh trả hẳn tiền vé cả đi lẫn về. Anh khâu hình vẽ và chữ ký của mình vào bên trong mũ rồi khi đi xe lượt về, anh chỉ nhấc cái mũ ra...

Nàng tiên cá

Tít ngoài biển khơi kia, nước xanh hơn cánh đồng hoa mua biếc nhất, trong vắt như pha lê, nhưng sâu thăm thẳm, sâu đến nỗi neo buông không tới đáy, phải chồng chất vô số ngọn núi đá mới lên tới mặt nước...

Đôi giày hạnh phúc

Trong một ngôi nhà, cạnh Hoàng trường mới, phố Đông, thành Côpenhagơ, chủ nhà đang tiếp khách. Khác hôm ấy rất đông, chủ nhà vốn là hiếu khách, hơn nữa là để được mời lại...

Chàng ngốc và lũ quỷ

Ngày xưa ở một làng kia có hai anh em trai đều có gia đình riêng. Người anh vốn khôn ngoan lại chăm chỉ làm ăn nên chẳng bao lâu đã giàu có. Trái lại người em vừa kém suy tính, lại vừa lười biếng nên càng nghèo...

Mười hai người thợ săn

Ngày xưa có một vị Hoàng tử yêu vợ chưa cưới tha thiết. Một hôm, chàng đang ngồi bên nàng rất đỗi sung sướng thì nhận được tin cha ốm sắp chết muốn gặp mặt chàng trước khi nhắm mắt...

Chàng Mồ côi và con gái vua Rồng

Xưa kia có một chàng trai không còn ai thân thích trên đời. Chàng lớn lên giữa những người xa lạ, không ai biết tên chàng là gì. Vì thế người ta gọi chàng đơn giản là chàng Mồ côi. Thật buồn phải sống cô độc trên đời, thêm nữa lại nghèo...

Bác đánh cá và gã hung thần

Ngày xưa, có một bác đánh cá đã cao tuổi. Một hôm bác ra biển quăng lưới, kiên nhẫn đợi cho lưới sa xuống tuận đáy biển mới kéo lên. Nhưng lần nào bác cũng chỉ cất lên toàn những thứ đáng vứt đi...