Con ngựa mù

Ngày xưa lâu lắm rồi, trên đất nước Nga có một thành phố buôn bán sầm uất ở gần cửa biển. Ở thành phố ấy có một thương nhân rất giàu có. Thuyền ông ta chở hàng đi khắp bốn biển năm châu nên ông ta thu được nhiều bạc vàng, mua sắm được nhiều vật quý. Nhưng quý nhất là con ngựa, một con ngựa tuyệt vời, chạy nhanh như gió, ông ta đặt tên nó là Truy phong. Trừ ông ta, chẳng ai dám cưới và ông ta cũng chỉ thích cưỡi con ngựa ấy mà thôi!

Một hôm, ông ta cưỡi con Truy phong đi đâu về, phải qua một cánh rừng. Trời đã tối. Cánh rừng âm u, xung quanh vắng lặng, chỉ nghe tiếng gió rì rào trên ngọn cây. Đường còn xa, con ngựa đã thấm mệt, ông ta cho nó đi nước kiệu.

Bỗng, sau gã, mặt hung dữ, từ trong bóng cây nhảy ra, giật lấy dây cương con Truy phong. Không phải con ngựa quý ấy, có lẽ ông ta không bao giờ còn nhìn thấy thành phố quê hương của mình nữa! Con Truy phong lồng lên, đưa ngực ẩy hai tên cướp ngã dụi, giẫm lên thằng thứ ba, rồi phi nước đại, bụng sát đất, vút đi như cơn lốc. Những tên còn lại nhảy lên ngựa đuổi theo. Nhưng đuổi sao kịp con Truy phong!

Nửa giờ sau, nó đã về đến thành phố. Thương nhân thoát nạn, mừng rỡ, nhảy xuống vuốt ve con ngựa quý, bấy giờ đã mệt lả, bọt mép chảy ròng ròng. Thấy mà thương, ông ta thề sẽ nuôi dưỡng nó đến già, không bán cho ai bằng bất cứ giá nào!

Sau chuyến đó, con Truy phong ốm, quỵ dần, chân yếu hẳn, hai con mắt trắng dã. Nó mù rồi! Chủ nó buồn. Nhưng ông ta vẫn nhớ lời thề. Có điều nhớ lời thề là một chuyện, mà thực hiện lời thề lại là chuyện khác! Được sáu tháng, ông ta mua một con ngựa mới, tuy không bằng con Truy phong, nhưng cũng là ngựa tốt. Một cái chuồng mà nhốt hai con ngựa thì không ổn, ông ta đành phải cột con Truy phong ra ngoài, dành chỗ cho con ngựa mới.

Sáu tháng nữa, ông ta nhận thấy con ngựa mù không còn được việc gì, mà cũng mỗi ngày ăn hai đấu thóc như con kia thì không công bằng. Chỉ nên cho mỗi ngày một đấu, dành phần cho con kia ăn lấy sức. Càng nghĩa, ông ta càng thấy mình phải. Cuối cùng, ông ta quên hẳn những lời mình thề thốt. Mỗi ngày một đấu thóc, vẫn còn tốn, chi bằng thả nó ra, nó đi đâu thì đi, mình không tự tay giết nó là được rồi!

Con Truy phong không còn biết đi đâu, cũng chẳng thấy đường mà đi. Thả ra, nó đứng một hồi trước cổng, đầu gục xuống, tai vẫy vẫy xua muỗi. Trời tối. Tuyết xuống. Con vật tội nghiệp, bụng đói, phải mò đi kiếm cái ăn. Nó bước từng bước một, thỉnh thoảng ngửng đầu lên đánh hơi xem có nắm cỏ, nắm rơm nào chăng, đâm vào bụi rậm không biết bao nhiêu lần!

Thuở ấy, nhiều thành phố của Nga không phải do một vị hoàng tử nào cai quản, mà người dân tự cai quản lấy, tự quyết định những việc hệ trọng. Cho nên giữa quảng trường có treo một quả chuông trên cái chòi tranh. Ai có điều oan khuất thì đến đó kéo chuông, người dân sẽ tụ tập lại mà xử. Con ngựa mù ấy vô tình đến đây, vấp phải chòi tranh, định rút một nắm tranh ăn đỡ đói. Không ngờ, ngậm phải sợi dây chuông, nó giật giật. Tiếng chuông vang lên.

Nghe tiếng chuông đổ hồi, mọi người kéo nhau ra. Người dân chẳng ai lạ gì con Truy phong, họ còn biết chuyện nó cứu chủ như thế nào, những lời chủ thề thốt với nó ra sao. Bây giờ, họ rất đỗi ngạc nhiên thấy nó giữa quảng trường, mắt mù, bụng lép kẹp, mình đầy tuyết, đang run lẩy bẩy. Mọi người hiểu ngay, liền cho đòi chủ nó ra trước tòa. Ông ta viện hết cớ này có nọ nhưng người dân không tha thứ cho một con người bội bạc như thế, bắt ông ta phải tôn trọng lời thề, nuôi dưỡng con Truy phong cho đến ngày nó chết. Quyết định được khắc vào tấm đá đặt trước quảng trường, ông ta không trốn tránh được nữa.


Chú giải

[1] Sầm uất: đông đúc, nhộn nhịp.
[2] Thương nhân: người buôn bán, lái buôn.
[3] Truy phong: đuổi kịp gió (nghĩa đen), ý nói giống ngựa chạy nhanh.
[4] Đi nước kiệu: nói ngựa chạy thong thả, tốc độ trung bình.
[5] Phi nước đại: nói ngựa chạy như bay.
[6] Quảng trường: bãi rộng và bằng phẳng để hội họp, diễu binh.
[7] Oan khuất: điều oan ức phải chịu một cách vô lí.

Ba chú heo con

Ngày xưa có một bà mẹ heo sinh được ba chú heo con. Ba chú heo hay ăn nên lớn rất nhanh, khi thấy những đứa con của mình cũng đã lớn...

Thầy tu và anh thợ mộc

Ngày xửa ngày xưa, xưa đến không không ai còn nhớ nữa, tại một vương quốc nọ có một anh thợ mộc và một lão thầy tu. Lão thầy tu là một kẻ độc ác và hám tiền...

Cô dâu đen và cô dâu trắng

Bà mẹ cùng hai cô con gái ra đồng cắt cỏ cho bò. Trong hai cô có một cô là con đẻ, còn cô kia là con riêng của chồng. Họ đang đi thì gặp một người đàn ông nghèo đi qua hỏi đường đi: Có phải đường này là đường vào làng phải không bà ?

Sa-Norbou - Truyện cổ Tây Tạng

Ngày xưa, cách nay đã lâu lắm, có một thủ lãnh hùng mạnh ngự trị một vùng rộng lớn. Ông thích điều khiển và lúc nào cũng muốn giành phần tốt nhất cho mình. Cũng ở trong xứ đó, có một pháp sư, khôn ngoan và rất nhân từ...

Cái hồ cạn

Ngày xửa ngày xưa, tại một làng nó có một bà mẹ sống cùng một người con trai và một người con gái. Bà chịu khó còng lưng làm thuê từ sáng sớm đến tối khuya trên ruộng đất của người khác mà chẳng đủ ăn...

Sự tích hoa Phong Lan

Ở một miền xa xôi, khí hậu ấm áp và đất đai trù phú có một bộ lạc tên là Aruaki may mắn hơn các bộ lạc khác vì họ sai khiến được loài chim Oócchít chuyên đẻ những quả trứng bằng vàng...

Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn

Hồi ấy đang giữa mùa đông, hoa tuyết như những lông chim bay khắp bầu trời, có một bà hoàng hậu ngồi khâu bên cửa sổ...

Mèo chuột kết nghĩa

Để làm thân với chuột, mèo kể lể tâm tình, bày tỏ nguyện vọng tha thiết của mình, làm chuột nghe cũng bùi tai nên đồng ý ăn chung, ở chung với mèo...

Đám tang chị gà mái

Hồi ấy, ở trên núi có một gà trống và một con gà mái, chúng hứa sẽ chia ngọt sẻ bùi với nhau mỗi khi có mồi ngon. Có lần, con gà mái thấy một hạt dẻ lớn, nó mổ và nuốt hạt dẻ, nhưng hạt dẻ lớn quá nên nằm mắc lại ở cổ...