
Ngày xưa, ở vùng núi Đại An, nay thuộc tỉnh Khánh Hòa, có một đôi vợ chồng tiều phu tuổi đã cao nhưng vẫn chưa có con. Cuộc sống của họ tuy nghèo khó nhưng đầm ấm. Ngoài việc lên rừng đốn củi, hai ông bà còn khai phá một rẫy dưa trên sườn núi để cải thiện cuộc sống.
Một hôm, khi lên thăm rẫy, họ bàng hoàng phát hiện nhiều luống dưa bị giẫm nát, vài quả dưa ngon nhất cũng không cánh mà bay. Tưởng chỉ là chuyện nhất thời, nhưng những ngày sau đó tình trạng ấy vẫn tiếp diễn. Quá tức giận, hai ông bà quyết định ở lại canh giữ để bắt cho bằng được kẻ trộm.
Đêm ấy, dưới ánh trăng sáng vằng vặc, họ nhìn thấy một cô gái nhỏ lặng lẽ bước vào rẫy. Cô vội vàng hái một quả dưa, bổ ra rồi ăn ngấu nghiến như đã đói lắm.
Hai ông bà từ chỗ nấp chạy ra giữ lấy cô gái. Hoảng sợ, cô quỳ xuống van xin tha thứ. Trong tiếng nức nở, cô kể rằng mình là trẻ mồ côi, không còn cha mẹ hay người thân, lang thang khắp nơi kiếm sống.
Nghe chuyện, bà tiều phu xúc động nắm lấy tay cô gái và dịu dàng nói:
— Nếu con không chê cảnh nhà nghèo khó, hãy theo chúng ta về làm con nhé.
Cô gái rưng rưng nước mắt rồi khẽ gật đầu.
Hai ông bà nào đâu biết rằng cô gái ấy thực chất là một tiên nữ đang chịu hình phạt, bị đày xuống trần gian.
Từ ngày cô về sống cùng, căn nhà nhỏ trở nên vui vẻ và ấm áp hơn hẳn. Tiếng cười nói luôn vang lên giữa núi rừng vắng lặng.
Thời gian trôi qua, một năm nọ trời nổi cơn đại hồng thủy. Nước lũ dâng cao trắng xóa cả một vùng, xóm làng tiêu điều, nhà cửa tan hoang.
Nhìn cảnh trời nước mênh mang ấy, cô gái chợt nhớ đến chốn tiên cảnh năm xưa. Nỗi nhớ quê trời khiến nàng buồn bã. Để vơi đi nỗi lòng, nàng nhặt đá xếp thành những hòn non bộ nhỏ, dùng cỏ cây hoa lá trang trí rồi ngồi ngắm cho khuây khỏa.
Người cha nuôi không hiểu được tâm trạng ấy. Thấy nàng mải mê chơi đùa trong khi mọi người đang lo lắng vì thiên tai, ông buột miệng trách mắng.
Đang buồn lại bị hiểu lầm, nàng tủi thân vô cùng.
Trong cơn giận dỗi, nàng bỏ đi. Đúng lúc ấy, một khúc gỗ trầm hương lớn đang trôi theo dòng nước lũ. Nàng hóa thân vào khúc gỗ rồi mặc cho sóng nước cuốn đi.
Khúc gỗ trầm hương cứ thế trôi mãi, vượt biển lớn rồi dạt vào bờ một đất nước ở phương Bắc.
Người dân nơi đó phát hiện khúc gỗ tỏa ra mùi hương thơm lạ kỳ. Họ kéo nhau đến định đưa lên bờ. Thế nhưng hàng chục người hợp sức mà khúc gỗ vẫn không hề nhúc nhích.
Câu chuyện nhanh chóng truyền đến kinh thành.
Nghe tin, vị thái tử trẻ tuổi vô cùng tò mò. Hôm sau, chàng bí mật rời cung, một mình cưỡi ngựa đến tận nơi.
Vừa bước lại gần, mùi thơm từ khúc gỗ đã khiến chàng cảm thấy khoan khoái lạ thường. Chàng thử đưa tay nhấc lên. Thật kỳ lạ, khúc gỗ bỗng nhẹ như không.
Mừng rỡ, thái tử mang khúc gỗ về kinh thành.
Từ đó, khúc trầm hương được đặt trang trọng trước thư phòng của chàng. Mỗi khi đọc sách, hương thơm dịu dàng từ khúc gỗ lan tỏa khiến đầu óc chàng thêm minh mẫn và thư thái.
Một đêm, vì đọc sách quá khuya, thái tử ngủ quên trên bàn.
Trong giấc mộng chập chờn, chàng thấy một thiếu nữ tuyệt đẹp đang đứng bên cạnh nhẹ nhàng quạt cho mình ngủ.
Những đêm sau, khi ngắm trăng trong vườn ngự uyển, chàng lại thấp thoáng thấy bóng dáng người con gái ấy bước ra từ khúc gỗ trầm hương.
Quyết tìm hiểu sự thật, một đêm nọ thái tử giả vờ ngủ.
Khi trăng lên cao, chàng hé mắt nhìn và thấy một thiếu nữ xinh đẹp từ trong khúc gỗ bước ra.
Chàng nhẹ nhàng tiến tới rồi nắm lấy tay nàng.
Người thiếu nữ giật mình, còn thái tử thì sững sờ trước vẻ đẹp tuyệt trần của nàng.
Suốt đêm hôm đó, nàng kể cho chàng nghe thân thế của mình, từ những ngày sống với cha mẹ nuôi nơi quê cũ cho đến việc hóa thân vào khúc gỗ trầm hương.
Càng nghe, thái tử càng yêu mến nàng.
Sáng hôm sau, chàng vào cung xin vua cha cho phép cưới nàng làm vợ.
Nhà vua cho rằng đây là mối lương duyên tốt đẹp nên vui vẻ chấp thuận.
Lễ cưới được tổ chức linh đình trong cung điện nguy nga.
Không lâu sau, thái tử phi sinh được hai người con, một trai một gái.
Gia đình họ sống hạnh phúc trong nhung lụa, nhưng sâu thẳm trong lòng, nàng vẫn luôn nhớ quê hương Đại An và day dứt vì đã bỏ đi trong lúc cha mẹ nuôi tuổi già cần người chăm sóc.
Một hôm, nhân lúc thái tử đi tuần thú xa nhà, nàng đưa hai con nhập vào khúc gỗ trầm hương năm xưa rồi dùng phép thần bay vượt biển trở về cố quốc.
Khi trở lại quê hương, nàng đau lòng nhận ra cha mẹ nuôi đã qua đời từ lâu.
Ngôi nhà cũ lạnh lẽo và hoang vắng.
Nàng cho xây sửa lại nhà cửa, chăm lo phần mộ của hai ông bà thật chu đáo để báo đáp công ơn nuôi dưỡng.
Nhìn thấy dân chúng Đại An còn nghèo khó, nàng dùng phép màu khiến cây trầm hương mọc khắp nơi.
Không chỉ vậy, nàng còn dạy dân làng lễ nghĩa, cách cày cấy để ruộng sâu lúa tốt, cách kéo tơ dệt vải mềm mại và đẹp đẽ.
Nhờ những điều ấy, cuộc sống của người dân ngày càng sung túc, ấm no.
Một ngày kia, bầu trời bỗng vang lên tiếng động lớn.
Từ trong mây, một con hạc thần khổng lồ sà xuống.
Hạc thần cất tiếng:
— Thời hạn ở hạ giới của tiên nữ đã hết. Ngọc Hoàng sai ta đến đón người cùng các con trở về thiên cung.
Người dân Đại An lưu luyến tiễn biệt nàng.
Sau khi nàng rời đi, họ nhớ thương vô hạn nên đã tạc một pho tượng giống hệt nàng và đặt trong một tòa tháp lớn để thờ phụng.
Người đời gọi đó là Tháp Bà.
Từ ấy, nàng được nhân dân tôn kính với danh hiệu Bà Chúa Trầm Hương hay Thiên Y A Na – Mẹ Xứ Sở.
Ở phương Bắc, thái tử đợi mãi không thấy vợ con trở về. Lo lắng, chàng sai quân lính đi khắp nơi tìm kiếm.
Cuối cùng, đoàn quân tìm đến Đại An.
Nghe dân làng kể rằng ba mẹ con thái tử phi đã được hạc thần rước lên trời, họ không tin. Cho rằng dân làng đang che giấu nàng, quân lính liền lùng sục khắp nơi, phá phách nhà cửa, khiến dân chúng vô cùng khổ sở.
Quá tuyệt vọng, dân làng kéo đến Tháp Bà thắp hương cầu xin sự che chở.
Kỳ lạ thay, lời khấn vừa dứt thì trời đất nổi cơn cuồng phong dữ dội. Cát bay mù mịt, đá từ khắp nơi đổ xuống.
Chỉ trong chốc lát, toàn bộ quân lính phương Bắc bị chôn vùi dưới lớp cát đá. Thuyền bè của họ cũng bị đánh chìm ngoài biển.
Tương truyền rằng những hòn đá dùng để đánh đắm tàu giặc vẫn còn nằm lại gần Tháp Bà cho đến ngày nay. Người dân gọi đó là Hòn Chữ.
Ngày nay, Tháp Bà vẫn sừng sững bên dòng sông Cái của tỉnh Khánh Hòa.
Hằng năm, từ ngày 21 đến ngày 23 tháng Ba âm lịch, người dân lại tổ chức lễ hội long trọng để tưởng nhớ Bà Chúa Trầm Hương – người đã dạy dân làm ăn, mang cây trầm hương đến vùng đất này và luôn che chở cho con cháu nơi quê hương Đại An.