Bẫy cò

Năm ấy tôi mười hai, còn bé Vin lên bảy. Vào dịp hè, chúng tôi được tự do chạy nhảy. Vin tết tóc thành hai dải, thắt nơ xanh, bám theo tôi như chiếc bóng. Chúng tôi thường lần dọc bờ đê tìm cỏ gà hoặc lăn ra bãi cỏ đố nhau đếm từng đàn chim bay qua. Đủ các loại chim. Ban ngày chúng lặn lội kiếm ăn, tối đến lại rủ nhau tụ hội trên những bụi tre xanh tốt phía rìa làng.

Một hôm tôi bảo Vin :

– Chúng mình bẫy cò đi.

Vin tròn mắt:

– Anh biết làm bẫy à ?

– Biết chứ!

Bé Vin nhìn tôi ra chiều phục lắm. Khi tôi bắt tay vào việc, Vin luôn chầu chực để thực hiện những điều tôi sai bảo. Nó có vẻ háo hức hơn cả tôi, miệng liến láu:

– Anh Tú phải bắt sống cho em một con cò vàng. Cò vàng đẻ trứng bằng vàng đấy. Em sẽ dạy nó trông nhà.

– Nhất định phải bắt được cò vàng ! – Tôi đáp.

Đến ngày thứ ba thì chiếc bẫy hoàn thành. Trời tháng bảy nắng chang chang. Dưới cánh đồng, hàng ngàn con cò trắng đang lội bì bõm tìm mồi. Trông chúng bước lờ đờ mà mắt chúng cực tinh ranh : không con tép nào qua được mắt chúng. Thấy tôi và bé Vin, lũ cò rướn cổ lên, nghiêng ngó tí chút rồi thản nhiên kiếm tép như muốn bảo : “Hai đứa chíp hôi, chả sợ!”

Tôi đã chọn được chỗ cắm bẫy. Con cá cờ dùng làm mồi lượn le te trong vòng tròn có đặt sẵn thòng lọng. Chỉ cần cò mổ nhẹ là bẫy sập và chiếc thòng lọng sẽ bật lên, thít vào cổ nó. Con mồi phải tươi nguyên mới mong giống cò trắng sành ăn ấy để mắt tới.

Tôi kéo bé Vin về phía gò đất, chui vào tán cây duối dại, quan sát đàn cò. Mấy chú cò lò dò đi về phía chiếc bẫy. Một con chợt nghển cổ, bước nhanh lên trước nhưng khi cách con mồi một tầm mổ thì nó dừng lại. Nó nghi hoặc nghe ngóng rồi lảng ra xa, cổ gật gật như muốn bảo : “Gớm cho lũ nhóc định đặt bẫy lừa ta !” Rồi lập tức cò ta thông báo để cả bọn lảng khỏi vòng nguy hiểm, con nào con nấy tỏ vẻ ghê tởm nhìn chiếc bẫy.

Tôi và bé Vin vẫn áp sát xuống đất mặc dù quanh chiếc bẫy vắng tanh. Đàn cò trắng ăn no đang rủ nhau tắm. Trời về chiều nhưng hơi nóng vẫn hầm hập bốc lên từ mặt ruộng. Bé Vin thấm mệt, mặt đỏ lừ. Đúng lúc tôi định tháo bẫy thì trên trời sà xuống hai mẹ con nhà cò bợ. Giống cò bợ vốn thật thà, thô kệch chứ không lịch lãm, tinh ranh như họ hàng cò trắng. Vừa thoáng thấy con cá cờ, cò bợ con đã lao vụt lên trước, gần như nhảy vào giữa vòng thòng lọng. Vút! Chiếc cần tre bật nhẹ cùng tiếng reo của tôi và bé Vin :

– Sập bẫy rồi!

Tôi và Vin cùng chạy vội về phía con vật đang vỗ cánh bành bạch. Cả đàn cò trắng bay vụt lên, kêu náo loạn. Cò bợ mẹ bay thấp hơn, gào lên đau đớn. Trong khi đó, cò bợ con bị sợi cước thít vào cổ giãy giụa tuyệt vọng. Thấy chúng tôi, nó vùng bay lên và ngay lập tức rơi bịch xuống đất, toàn thân bê bết bùn. Nhìn cảnh đó bé Vin bỗng tái mặt, đầu gối ríu vào nhau. Tôi đành tháo bẫy một mình. Cò bợ mẹ càng gào thảm thiết. Cò bợ con chừng đã mệt, hai cánh áp xuống đất, mắt loé lên như hai giọt nước, toàn thân run rẩy. Đến lượt chân tôi muốn khuỵu xuống. Tôi như nghe thấy tiếng van xin của cò bợ con. Tôi hình dung thấy cò bợ mẹ sẽ khóc hết nước mắt, rồi vài hôm nữa sẽ thấy xác một cò mẹ chết rũ vì thương con. Tôi không kịp nghĩ gì cả, ngồi thụp xuống, gỡ nút thòng lọng rồi ôm cò bợ con tung bổng lên trời. Thoạt đầu, chú cò loạng quạng bay như diều đút dây. Lát sau nó lấy lại được tư thế, rồi hai mẹ con dìu nhau bay về phía làng.

Cả tôi và bé Vin đều ngửa cổ nhìn theo cho đến lúc mẹ con cò bợ chỉ còn là những chấm đen in lên hoàng hôn đỏ rực.

Bé Vin mặt vẫn tái mét, im lặng bước theo tôi. Bỗng nó ngồi thụp xuống, khóc oà, vừa khóc vừa nói:

– Con cò… sẽ gãy cổ… gãy cổ…

Tôi phải cam đoan với Vin là con cò chỉ hơi đau, nó mới chịu nín. Nó bám vào tay áo tôi, vừa đi vừa quệt nước mắt.

Từ hôm sau, cứ chiều đến, chúng tôi tìm một bãi cỏ nằm chờ từng đàn chim trở về. Thỉnh thoảng bé Vin lại đứng ngẩn người, nhìn hút theo một con chim lạc bầy, vừa chấp chới bay vừa kêu thảm thiết.

Kho báu của cha

Ngày xưa, có hai vợ chồng người nông dân kia quanh năm hai sương một nắng, cuốc bẫm cày sâu. Hai ông bà thường ra đồng từ lúc gà gáy sáng và trở về nhà khi đã lặn mặt trời.

Như thế nào là một ngày đẹp?

Châu Chấu nhảy lên gò, chìa cái lưng màu xanh ra phơi nắng. Nó búng chân tanh tách, cọ giũa đôi càng: Một ngày tuyệt đẹp!

Bố của Xi-mông

Chuông báo trưa vừa dứt. Cửa trường mở, và bọn trẻ con chen lấn nhau ùa ra cho nhanh. Nhưng chúng không mau tản mát về nhà ăn trưa như mọi ngày mà còn dừng lại, cách đó vài bước, tụ tập thành nhóm, thì thào to nhỏ.

Cuộc phiêu lưu của viên kim cương

Một lần, bác sĩ Oát-xơn đến nhà Sơ-lốc Hôm. Vị thám tử lừng danh đang ngồi đăm chiêu bên một cái mũ sờn cũ và một chiếc kính lúp.

Chiếc xe đẩy của Chuột Đồng

Mùa thu đã tới, lúa mạch đã thơm, lúa mì đã vàng, củ cải đã đỏ. Chuột đồng đẩy chiếc xe cút kít mà bố vừa mới làm cho nó đến ruộng. “Hò dô ta, hò dô ta!” một đàn Kiến nhỏ đang khiêng một bông lúa mạch bước đi lặc lè trên ruộng...

Núi cười

Ngày xưa, ở một bản nọ có hai anh em. Anh thì ham chơi. Em thì chăm học, chăm làm.

Mèo con không biết vâng lời

Đó là một con mèo tam thể rất đẹp, nhưng cũng rất bướng, không biết nghe lời. Nó còn nhỏ, không biết mẹ nó là ai, chỉ biết cô bé gái thường ôm vuốt ve nó và không bao giờ mắng nó cả.

Cá Mập và Cá Kiếm

Một hôm, Cá Kiếm mẹ đưa con đến một khe đá, bảo cá con ở yên một chỗ để cá mẹ đi kiếm ăn. Một lát sau, một con Cá Mập đến cửa khe đá, khóc lóc nói với cá con...

Đốt cháy đồng lúa chín

Ngày xưa có một cụ già sống trên một ngọn núi cao ở Nhật Bản. Chung quanh nhà cụ, ruộng nương bằng phẳng và phì nhiêu. Ruộng nương đó thuộc về cư dân của một làng nhỏ dưới chân núi dọc ven biển.