Vì sao có các loại bệnh địa phương?

Bệnh địa phương là chỉ những bệnh phát sinh ở một khu vực nhất định, có liên quan mật thiết với môi trường khu vực đó. Bệnh địa phương lưu hành trong phạm vi khu vực, số năm lưu hành khá lâu, hơn nữa số bệnh nhân tương đối lớn, biểu hiện thành những bệnh có đặc điểm giống nhau. Bệnh địa phương có thể phân thành hai loại chính đó là bệnh có tính hóa học và bệnh có tính sinh vật.

Bệnh địa phương có tính hóa học gọi là bệnh hóa học sinh vật trên Trái Đất. Như ta đã biết sự sinh trưởng và phát dục của con người có liên quan chặt chẽ với hàm lượng của các nguyên tố hóa học ở khu vực người đó sinh sống. Trong cơ thể chúng ta nhất thiết có chứa vi lượng một số nguyên tố nào đó. Nếu hàm lượng các nguyên tố trong cơ thể nhiều quá hoặc ít quá sẽ gây ra bệnh. Nhưng chúng ta sống trên mặt đất, sự phân bố các nguyên tố hóa học rất không đồng đều. Ở những địa phương khác nhau hiện tượng không đồng đều này thể hiện rất rõ. Ví dụ ở một vùng nào đó, có loại nguyên tố quá nhiều hoặc quá ít. Điều đó sẽ dẫn đến trong cơ thể chúng ta thừa hoặc thiếu một vi lượng những nguyên tố cần thiết. Dân địa phương vì đời đời kiếp kiếp sống cố định một chỗ nên cơ thể sẽ hấp thu những nguyên tố trong môi trường vượt quá hoặc thấp hơn mức bình thường, do đó mà mắc phải bệnh hóa học có tính địa phương. Ví dụ, nguyên tố iốt phân bố không đồng đều có thể gây nên bệnh tuyến giáp trạng phù to gọi là bệnh bướu cổ; Nguyên tố flo phân bố quá nhiều gây ra bệnh ngộ độc flo. Vì nguyên nhân gây bệnh hóa học địa phương không phải là những sinh vật sống nên không có tính truyền nhiễm.

Bệnh sinh vật địa phương thường ở những khu vực đặc biệt nào đó có loài sinh vật gây ra bệnh hoặc môi giới gây ra bệnh tạo nên. Ví dụ ở một vài nước như Liên Xô cũ trước đây hay ở Mỹ, trong những vùng thảo nguyên và sa mạc người sống thưa thớt, có một loài chuột hoang dã gây ra bệnh. Con người vào khu vực đó sống sẽ dễ bị mắc bệnh. Đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX ở tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc xuất hiện bệnh sưng khớp rất nhiều, từng đưa lại đau khổ cho cả vùng. Ba mươi năm sau các chuyên gia điều tra nguyên nhân mới biết được bệnh này do tiểu mạch và ngô bị ô nhiễm độc tố T-2 gây ra. Đặc điểm của bệnh sinh vật địa phương là tác nhân gây bệnh do những sinh vật sống, vì vậy nó có tính truyền nhiễm rất mạnh.

Từ khoá: Bệnh địa phương; Bệnh địa phương hóa học; Bệnh địa phương sinh vật.

Tại sao một số vi sinh vật có thể giữ ni tơ?

Trong không khí có chứa một lượng lớn chất nitơ, đáng tiếc khí nitơ này ở trạng thái trơ, thực vật không thể trực tiếp sử dụng nó. Chỉ nhờ tác dụng...

Vì sao tóc cũng có thể dùng để đo lường ô nhiễm môi trường?

Napoleon, nhân vật làm mưa làm gió ở Châu Âu thế kỉ XIX đã mất năm 1821. Cái chết của ông vì có nhiều lời đồn đại nên đã trở thành một bí mật trong...

Vì sao không nên mù quáng sản xuất và sử dụng đũa dùng một lần và bút chì vỏ gỗ?

Trung Quốc có hai điều “nhất thế giới” khiến người ta chua xót, đó là sản lượng và lượng xuất khẩu đũa gỗ dùng một lần và bút chì vỏ gỗ.

Thế nào là sinh vật tích lũy và sinh vật phóng đại?

Vừa đọc xong tiêu đề này chắc bạn sẽ nảy ra hàng loạt nghi ngờ. Vì sao sinh vật lại tích lũy và phóng đại? Chúng tích lũy và phóng đại cái gì? Chúng...

Tháp năng lượng gió được xây dựng và phát điện như thế nào?

Gió lốc là một vòng xoáy không khí xoay tròn với tốc độ cực lớn được sản sinh ra trong đám mây mưa, áp suất không khí ở trung tâm của nó rất thấp, chỉ...

Thế nào là vật liệu thông minh?

Các sinh vật trong giới tự nhiên đều có công năng tự biến đổi, tu sửa để hồi phục. Ví dụ với con người thì cho dù có rách da chảy máu, gãy xương thì...

Vì sao áp suất không khí mùa đông cao hơn mùa hè?

Khí áp là áp suất của cột không khí trên mặt đất sinh ra trên một đơn vị diện tích. Khí áp của một vùng thường phát sinh biến đổi.

Tại sao kim chỉ nam không chỉ chính hướng Nam của Trái đất?

Từ rất sớm, con người đã phát hiện ra kim chỉ nam không chỉ chính hướng Nam của Trái đất mà nó bị chệch đi một chút.

Vì sao máy biến áp có thể thay đổi điện áp?

Chúng ta đều biết rằng, máy biến áp có thể thay đổi điện áp. Trước khi dòng điện chuyển từ nhà máy phát điện hòa vào lưới điện, người ta phải biến chúng trở thành dòng điện siêu cao áp.